Soạn bài Kể lại một truyền thuyết SGK Ngữ văn 6 tập 2 Kết nối tri thức với cuộc sống siêu ngắn

Soạn bài Kể lại một truyền thuyết siêu ngắn SGK ngữ văn 6 tập 2 Kết nối tri thức với cuộc sống với đầy đủ lời giải tất cả các câu hỏi và bài tập

Tổng hợp đề thi giữa kì 2 lớp 6 tất cả các môn - Kết nối tri thức

Toán - Văn - Anh - KHTN...

Đề bài

Truyền thuyết cũng như các truyện dân gian khác được lưu truyền nhờ lời kể, bằng lời kể. Nếu muốn kể hoặc được yêu cầu kể một truyền thuyết đã đọc, đã nghe, em sẽ thực hiện như thế nào?

Video hướng dẫn giải

Phương pháp giải - Xem chi tiết

1. TRƯỚC KHI NÓI

a. Chuẩn bị nội dung nói

- Chọn truyền thuyết và ngôi kể.

- Tóm tắt truyện.

- Xác định từ ngữ then chốt và giọng kể thích hợp.

b. Tập luyện

Để có bài nói tốt, em cần tập luyện:

- Tập trình bày một mình trước gương.

- Tập trình bày trước bạn bè hoặc người thân và lắng nghe các ý kiến nhận xét, góp ý để hoàn thiện bài nói.

2. TRÌNH BÀY BÀI NÓI

Khi trình bày bài nói, em cần lưu ý:

- Giọng kể trang nghiêm, đôi lúc hào sảng, trầm lắng.

- Tập trung vào những sự kiện quan trọng

- Nên chuẩn bị tranh ảnh để mô phỏng.

3. SAU KHI NÓI

- Người nghe:

+ Trao đổi về bài nói với tinh thần xây dựng và tôn trọng. Có thể trao đổi một số nội dung như:

• Điều hấp dẫn, thú vị của câu chuyện.

• Những sự việc, chi tiết còn chưa rõ trong bài nói.

- Người nói:

Lắng nghe, phản hồi những ý kiến của người nghe với tinh thần cầu thị:

• Tiếp thu những ý kiến góp ý mà em cho là xác đáng.

• Giải thích thêm về những sự việc, chi tiết mà người nghe còn chưa rõ.

Lời giải chi tiết

Bài tham khảo 1: 

Đó là câu chuyện từ thời Hùng Vương thứ 6, tại làng Gióng. Có một đôi vợ chồng già vô cùng chăm chỉ, đức hậu nhưng mãi chưa có được mụn con nào. Thế rồi một hôm, bà lão trông thấy một vết chân rất to trên nền đất nên tò mò ướm thử chân vào. Nào ngờ không lâu sau bà mang thai. Điều kì lạ chưa dừng ở đó. Bà lão mang thai đến 12 tháng mới sinh được cậu con trai rất khôi ngô, tuấn tú. Thế nhưng, cậu bé lên 3 rồi mà vẫn chưa thấy nói, thấy cười hay thấy đi, cứ đặt đâu thì nằm đó. Thời đó, giặc Ân hung bạo sang xâm lược nước ta. Nhân dân rơi vào cảnh lầm than, chiến tranh liên miên. Thấy vậy, nhà vua sai sứ giả đi khắp nơi tìm người tài giỏi. Nghe vậy, cậu bé lên 3 ấy liền cất những câu nói đầu tiên trong cuộc đời ''Mẹ ra mời sứ giả vào đây''. Khi sứ giả vào, cậu bé bảo ''Ông về tâu với vua sắm cho ta một con ngựa sắt, một cái roi sắt và một tấm áo giáp sắt, ta sẽ phá tan lũ giặc này.''. Nhà vua nghe vậy liền cho thợ làm gấp những vật mà cậu bé dặn dò. Lạ hơn là, sau ngày hôm đó, chú bé lớn nhanh như thổi. Cơm ăn mãi không no, áo vừa mặc đã đứt chỉ. Hai vợ chồng làm lụng bao nhiêu cũng không đủ nuôi người con nên phải đành nhờ cậy hàng xóm. Bà con xung quanh đều  vui lòng góp gạo nuôi chú bé vì ai cũng muốn quân giặc sớm bị tiêu diệt. Khi sứ giả đem ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt đến cũng là lúc thế nước đang rất nguy vì giặc đã đến gần chân núi Trâu Sơn. Chú bé vùng dậy, vươn vai một cái bỗng trở thành một tráng sĩ. Tráng sĩ mặc áo giáp, cầm roi, nhảy lên mình ngựa. Ngựa phun lửa, tráng sĩ thúc ngựa phi thẳng đến nơi có giặc để đón đầu chúng. Người tráng sĩ lúc này đánh hết lớp giặc này đến lớp giặc khác. Roi sắt gãy thì nhanh trí nhổ cụm tre cạnh đường mà quật giặc đến tan vỡ. Đám tàn quân giẫm đạp lên nhau mà tháo chạy, tráng sĩ đuổi đến chân núi Sóc. Đến đó, người cởi áo giáp sắt, một mình một ngựa từ từ bay lên trời. Cảnh ấy mới thật tráng lệ, hùng vĩ làm sao. Sự góp sức chống giặc của người tráng sĩ được vua nhớ công mà phong là Phù Đổng Thiên Vương. Vua ban lệnh lập đền thờ ngay ở quê nhà. Hiện nay vẫn còn đền thờ ở làng Phù Đổng (hay còn gọi là làng Gióng). Mỗi năm khi đến tháng Tư, làng mở hội to. Nhiều người kể rằng, những bụi tre đằng ngà vì ngựa phun bị cháy mới ngả sang màu vàng óng như vậy, còn những vết chân ngựa lại thành những ao hồ liên tiếp Người ta còn truyền nhau rằng, khi ngựa thét ra lửa đã thiêu cháy một làng cho nên gọi đó là làng Cháy. 

Xem thêm
Bài tham khảo 2
Bài tham khảo 3

Kính chào thầy cô và các bạn, sau đây tôi sẽ kể về truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh.

Vua Hùng Vương thứ mười tám có một người con gái. Nàng tên là Mị Nương, vốn xinh đẹp tuyệt trần lại nết na hiền dịu. Nhà vua hết mực yêu thương, nên muốn tìm cho nàng một người chồng xứng đáng.

Một hôm, có hai chàng trai đến cầu hôn. Một người ở vùng núi Tản Viên có tài lạ: vẫy tay về phía đông phía đông nổi cồn bãi, vẫy tay về phía tây phía tây mọc lên từng dãy núi đồi. Tên của chàng là Sơn Tinh. Người còn lại tài năng cũng chẳng hề thua kém: gọi gió gió đến, hô mưa mưa về. Tên của chàng là Thủy Tinh. Nhà vua thấy cả hai ngang sức, ngang tài thì vô cùng khó xử, không biết chọn ai. Vua cho gọi các Lạc hầu vào cung bàn bạc, rồi đưa ra quyết định:

- Cả hai người đều vừa ý ta, nhưng ta lại chỉ có một người con gái. Vậy nên, ngày mai, ai mang sính lễ đến trước sẽ được ta gả con gái cho.

Sơn Tinh và Thủy Tinh nghe xong, liền hỏi xem sính lễ cần gì. Vua Hùng nói rằng:

- Sính lễ gồm có một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng, voi chín ngà gà chín cựa ngựa chín hồng mao, mỗi thứ một đôi.

Nghe xong, Sơn Tinh và Thủy Tinh liền cáo từ. Sáng hôm sau, Sơn Tinh mang lễ vật đến trước, được đón Mị Nương về. Thủy Tinh đến sau, không lấy được vợ, liền đem quân đuổi đánh Sơn Tinh.

Thần nước hô mưa, gọi gió làm thành dông bão rung chuyển cả đất trời. Nước ngập khắp các đồng ruộng nhà cửa, nước dâng lên lưng đồi sườn núi. Cả thành Phong Châu nổi lềnh bềnh trên một biển nước, dân chúng khắp nơi đều khổ sở. Sơn Tinh chẳng hề nao núng. Thần dùng phép lạ, bốc từng quả đồi, dời từng dãy núi, dựng thành lũy đất, chặn dòng nước lũ. Cứ thế, nước sông dâng lên bao nhiêu, đồi núi lại dâng lên bấy nhiêu.

Suốt mấy tháng trời, hai thần vẫn giao chiến. Cuối cùng, sức cùng lực kiệt, Thủy Tinh đành phải rút quân. Nhưng kể từ đó, mối thù càng tăng thêm. Năm nào, Thủy Tinh cũng dâng nước đánh Sơn Tinh, nhưng vẫn phải nhận lấy thất bại.

Cảm ơn thầy cô và các bạn đã lắng nghe. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn.

Kính chào thầy cô và các bạn. Để kể lại một truyền thuyết đã đọc hoặc đã nghe, trước hết chúng ta cần hiểu nội dung câu chuyện, nhớ các nhân vật chính và những sự việc quan trọng. Khi kể, chúng ta nên nói rõ ràng, mạch lạc và thể hiện cảm xúc để câu chuyện trở nên hấp dẫn hơn. Sau đây, tôi xin kể lại truyền thuyết Sự tích Hồ Gươm.

Ngày xưa, vào thời giặc Minh xâm lược nước ta, nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo đứng lên chống giặc. Lúc bấy giờ, Long Quân quyết định cho nghĩa quân mượn một thanh gươm thần để đánh giặc cứu nước. Một hôm, người đánh cá tên là Lê Thận kéo lưới và nhặt được một lưỡi gươm lạ. Sau đó, khi Lê Lợi đến nhà Lê Thận, thanh gươm bỗng phát sáng. Về sau, Lê Lợi lại nhặt được chuôi gươm. Khi ghép lại, lưỡi gươm và chuôi gươm vừa khít với nhau, tạo thành thanh gươm thần.

Từ đó, Lê Lợi dùng thanh gươm thần để chỉ huy nghĩa quân chiến đấu. Nhờ có thanh gươm và sự đoàn kết của nhân dân, nghĩa quân đã đánh bại quân Minh, giành lại độc lập cho đất nước.

Sau khi đất nước hòa bình, một ngày nọ Lê Lợi đi thuyền dạo chơi trên hồ Tả Vọng. Bỗng một con rùa vàng nổi lên và xin nhà vua trả lại thanh gươm cho Long Quân. Hiểu rằng gươm thần là của trời đất, Lê Lợi liền trao lại thanh gươm cho rùa vàng. Rùa ngậm gươm lặn xuống nước và biến mất.

Từ đó, hồ Tả Vọng được đổi tên thành Hồ Gươm hay còn gọi là hồ Hoàn Kiếm. Truyền thuyết này thể hiện lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết của nhân dân ta và giải thích nguồn gốc tên gọi của Hồ Gươm ở Hà Nội.

Cảm ơn thầy cô và các bạn đã lắng nghe. Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn.

Xem thêm
Bài tham khảo 2
Bài tham khảo 3

Tham Gia Group Dành Cho Lớp 6 Chia Sẻ, Trao Đổi Tài Liệu Miễn Phí

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
close