Soạn bài Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học (kịch) SGK Ngữ văn 9 tập 1 Kết nối tri thứcViết bài văn phân tích vở kịch “Hồn Trương Ba da hàng thịt”. Tổng hợp đề thi giữa kì 2 lớp 9 tất cả các môn - Kết nối tri thức Toán - Văn - Anh - KHTN Đề bài Trả lời câu hỏi Viết trang 132 SGK Ngữ văn 9 Kết nối tri thức Viết bài văn phân tích vở kịch “Hồn Trương Ba da hàng thịt”. Phương pháp giải - Xem chi tiết Dựa vào phần lập dàn ý đã được gợi mở kết hợp với hiểu biết của bản thân để viết bài hoàn chỉnh. Lời giải chi tiết Bài tham khảo 1: Lưu Quang Vũ là một tài năng đa tài của nền nghệ thuật Việt Nam từ các thế kỉ trước. Bằng tài năng của mình ông đã để lại cho đời nhiều tác phẩm hay và ý nghĩa như Tôi và chúng ta; Sống mãi tuổi 17; Nàng Sita; Ngọc Hân công chúa,... Trong đó, Hồn Trương Ba, da hàng thịt được xem là một trong những vở kịch đặc sắc nhất của Lưu Quang Vũ. Vở kịch chính là một bài ca về vẻ đẹp tâm hồn người lao động trong cuộc đấu tranh chống lại sự giả tạo, dung tục và khát vọng hoàn thiện nhân cách. Vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” được Lưu Quang Vũ viết vào năm 1981, công diễn lần đầu năm 1984 và nhiều lần trên sân khấu cả trong và ngoài nước.Vở kịch được gợi dẫn từ một cốt truyện dân gian, thực chất là sự cải biên một truyện cười dân gian. Trong khi tác giả dân gian chỉ tạo ra một tình huống oái oăm nhằm gây tiếng cười phê phán thì Lưu Quang Vũ đã biến nó thành một tấn bi kịch – bi kịch tâm lí. Đoạn trích phân tích thuộc cảnh VII và đoạn kết của vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”. Đến cảnh VII của vở kịch thì xung đột giữa hồn và xác đã được đẩy lên đỉnh điểm, nút thắt được siết chặt đến cao độ và cũng là lúc ta thấu hiểu tấn bi kịch mang tên: “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”. Đầu tiên là bi kịch sống nhờ, sống gửi, tồn tại trái với lẽ tự nhiên của hồn Trương Ba. Bi kịch ấy được thể hiện rõ qua màn đối thoại giữa hồn Trương Ba đã tách khỏi xác anh hàng thịt, còn “thân xác bằng thịt vẫn ngồi nguyên trên chõng và lúc này chỉ còn là thân xác”. Hồn Trương Ba nhân hậu, trong sáng và thanh cao lại đặt trong thân xác của một anh hàng thịt phàm tục, thô lỗ, đầy sức mạnh bản năng tục tằn. Lúc nào hắn cũng chỉ nghĩ đến mấy “cái món tiết canh, cổ hũ, khấu đuôi…”. “Tôi chán cái chỗ ở không phải của tôi này lắm rồi”… Cuộc tranh luận giữa hồn và xác diễn ra quyết liệt. Dường như có những lúc tiếng nói của xác thịt lấn át cả tiếng nói của linh hồn, đẩy linh hồn vào thế bị động và một mực phủ nhận lí lẽ của xác anh hàng thịt “lí lẽ của anh thật ti tiện”. Chỉ còn biết ngao ngán thở dài một tiếng “Trời!”. Qua đó, ta thấy rằng hồn Trương Ba đang ở trong tâm trạng vô cùng bức bối, đau khổ tột cùng. Những câu cảm thán ngắn, dồn dập cùng với ước nguyện khắc khoải của linh hồn đã nói nói lên điều đó. Màn đối thoại giữa hồn Trương Ba và xác anh hàng thịt chính là ẩn dụ về cuộc đấu tranh giữa tâm hồn và thân xác trong một con người. Đó là tiếng nói của bản năng và những tác động ghê gớm của nó vào linh hồn. Mặc dầu cho linh hồn luôn đấu tranh để vượt lên những đòi hỏi không chính đáng của thể xác nhưng khó mà tránh khỏi những tác động đó. Hồn Trương Ba có những dấu hiệu của sự tha hóa: trở nên thô lỗ tát con đến chảy máu mồm, thèm ăn ngon, thèm rượu thịt… Tiếp đó là bi kịch bị chối bỏ bởi những người xung quanh được thể hiện tập trung qua màn đối thoại giữa hồn Trương Ba với những người thân. Tình trạng tồn tại bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo của Hồn Trương Ba khiến cho vợ ông đau khổ tới mức định bỏ nhà ra đi dù bà là người hiền lành, cam chịu. Cái Gái quyết liệt không chịu nhận ông nội “Tôi không phải là cháu ông…Ông nội tôi chết rồi”, “Ông nội đời nào thô lỗ và phũ phàng như vậy”, “Ông xấu lắm, ác lắm! Cút đi”. Nó tố cáo Hồn Trương Ba làm gãy cây trong vườn, dẫm nát cây sâm quý của ông nội đã mất và còn làm hỏng mất cái diều của thằng cu Tị… Mặc dù cái Gái là đứa cháu rất yêu thương ông nội, đêm nào nó cũng khóc thương ông, nâng niu cất giữ từng chút kỷ niệm của ông. Nhưng nó vẫn chỉ là một đứa trẻ nhỏ, tâm hồn ngây thơ, trong sáng, thánh thiện không thể chấp nhận sự thô lỗ, tầm thường của linh hồn ông nội trú ngụ trong thân xác anh hàng thịt. Có lẽ người thấu hiểu và thương Trương Ba nhất nhà lại là chị con dâu, nhưng trước tình cảnh đó chị cũng phải nói rằng: “mỗi ngày thầy một đổi khác đi, mất mát dần”. Càng thương bố chồng, người con dâu ấy càng đau khổ, tuyệt vọng trong câu hỏi “làm sao giữ được thầy ở lại, hiền hậu, vui vẻ, tốt lành như thầy của chúng con xưa kia”. Than ôi! Còn gì đau đớn và hổ thẹn hơn khi mà bị chính những người thân của ta ruồng bỏ… Có lẽ đó là bi kịch dằn vặt nhất đối với Trương Ba của hiện tại. Bi kịch lại nối tiếp những bi kịch khi Đế Thích khuyên Trương chấp nhận vì thế giới không toàn vẹn, thể hiện cái nhìn quan liêu, hời hợt về cuộc sống con người. Và đó chính là bi kịch sửa sai càng thêm sai. Trương Ba bị chết oan uổng vì “một lầm lẫn của quan thiên đình”. Để sửa sai thì Đế Thích đã cho hồn Trương Ba sống trong thân xác của anh hàng thịt. Tồn tại ở tình trạng trái với tự nhiên một thời đã khiến hồn Trương Ba nhận ra rằng “có những cái sai không thể sửa được. Chắp vá gượng ép chỉ càng làm sai thêm”. Chỉ có cách là cố gắng đừng sai mà thôi. Nếu lỡ sai rồi thì hãy làm một việc đúng khác để bù lại. Khi Trương Ba kiên quyết đòi trả xác cho anh hàng thịt, Đế Thích định cho hồn ông nhập vào cu Tị. Bằng sự quyết liệt của mình, Hồn Trương Ba đã không chấp nhận mà chỉ xin tiên Đế Thích trả lại cuộc sống cho cu Tị – một cậu bé ngoan ngoãn, đáng yêu, rất thân thiết với ông và cái Gái hồi ông còn sống. Có lẽ chính sự lựa chọn đó mới làm cho linh hồn của Trương Ba thanh thản. Ông nhận ra rằng con người là một thể thống nhất, hồn xác phải hài hòa đồng thuận. Sống phải là chính mình. Sự bất tử của con người nằm trong ý nghĩa sự sống và sự hóa thân vào cuộc sống xung quanh. Khép lại vở kịch, Trương Ba đã chấp nhận cái chết để không còn cái vật quái gở mang tên “Hồn Trương Ba da hàng thịt” nữa. Đây là một kết cục đầy bi kịch chứ không phải kết thúc có hậu như trong cốt truyện dân gian trước đó. Nhưng đó lại là cái kết của sự chiến thắng cái ác, cái xấu và của những điều tốt đẹp, bản lĩnh. Vở kịch được đánh giá là một vở “bi kịch lạc quan” bởi tuy rằng Trương Ba không còn tiếp tục được sống nhưng những giá trị đích thực của cuộc sống được bảo toàn. Không còn trên cõi trần nhưng Trương Ba sẽ còn sống mãi trong lòng người thân, bạn bè và với tất cả những gì tốt đẹp nhất. Dưới ngòi bút của nhà viết kịch điêu luyện Lưu Quang Vũ những bi kịch của hồn Trương Ba trong đoạn trích được thể hiện một cách sinh động, đầy kịch tính thông qua những màn đối thoại, xung đột. Sự hấp dẫn của kịch bản cùng với nghệ thuật tạo dựng tình huống độc đáo, xây dựng và dẫn dắt xung đột kịch hợp lí và nghệ thuật dựng hành động kịch sinh động góp phần đem đến sự thành công cho tác phẩm. Đặc biệt, vở kịch được tạo nên bởi yếu tố huyền thoại, nghĩa là không có thực. Qua đó nhà văn đã làm sáng tỏ một hiện thực: Trong xã hội cũ, tình trạng con người không làm chủ được bản thân mình, không được sống như mình mong muốn không phải là hiếm. Hàng loạt nhân vật của Nam Cao cũng rơi vào tình trạng bi kịch như thế như: Chí Phèo, Bà cái Tí, anh cu Lộ… Nằm ở phần kết của vở kịch “Hồn Trương Ba da hàng thịt”, đoạn trích thể hiện rõ tài năng của nhà soạn kịch Lưu Quang Vũ. Thấy được kịch Lưu Quang Vũ đặc sắc trên rất nhiều phương diện như: sự kết hợp giữa tính hiện đại với các giá trị truyền thống, hay tiếng nói phê phán gay gắt, quyết liệt những hiện thực trong xã hội cũ… Vở kịch nói chung và đoạn trích nói riêng đã đem đến cho ta những bài học quý giá: Được sinh ra trên đời là một hạnh phúc, nhưng sẽ hạnh phúc hơn khi ta được sống là chính mình, sống một cách trọn vẹn với những giá trị vốn có và sẽ mãi theo đuổi nó đến cùng.
Xem thêm
Bài tham khảo 2
Bài tham khảo 3
Từ lâu, trong đời sống văn học nhân loại, mối tình Rô -mê-ô và Giu-li-ét trong vở bi kịch cùng tên của đại văn hào Sếch-xpia đã trở thành biểu tượng cho tình yêu chung thủy, mãnh liệt. Mặc dù bi kịch kết thúc, cả hai đều chết, nhưng tình yêu của họ đã chiến thắng, thù hận được xóa bỏ. Mười sáu lời thoại trong trích đoạn Tình yêu và thù hận đã bắt đầu hé mở về một sức mạnh tình yêu vượt lên thù hận. Uy-li-am Sếch-xpia (1564-1616) là một nhà thơ, nhà viết kịch thiên tài của nước Anh và của nhân loại thời kì Phục hưng, thời kì của chú nghĩa nhân văn, kết tinh khát vọng tự giải phóng cùa con người khỏi những xiềng xích phong kiến và chù nghĩa khổ hạnh của Giáo hội thời trung cổ. Với một tài năng xuất chúng, Sếch-xpia đã để lại 37 vở kịch mà phần lớn đều trở thành kiệt tác trong kho tàng văn học nhân loại. Từ những điển hình nghệ thuật sinh động, ông tái hiện trung thành hiện thực xã hội nước Anh đương thời; phơi bày tội ác phong kiến với những mối hận thù truyền kiếp, những quan niệm luân lí và lễ giáo khắc nghiệt. Đổng thời cũng chỉ ra bộ mặt xảo trá của chù nghĩa cá nhân tư sản thời kì đầu. Tác phẩm của ông là tiếng nói của lương tri tiến bộ, của khát vọng tự do, của lòng nhân ái bao la, niềm tin bất diệt vào khả năng hướng thiện và sức vươn dậy để khẳng định cuộc sống của con người. Rô-mê-ô vù Giu-li-ét là một trong số những vở kịch nổi tiếng nhất của Sếch- xpia. Dựa vào câu chuyện về món nợ máu truyền kiếp của haị dòng họ Môn-ta-ghiu yà Ca-piu-lét xảy ra thời trung cổ, tại thành phố Vê-rô-na (I-ta-li-a), Sếch-xpia đã xây dựng thành một bi kịch tình yêu và cho ra mắt công chúng lẩn đầu tiên vào năm 1595. Từ bấy đến nay, vở kịch đã đựợc dịch, được chuyển thể và được công diễn ở hầu khắp các nước trên thế giới, vở bi kịch dựa trên xung đột giữa con người với khát vọng yêu đương mãnh liệt và hoàn cảnh thù địch vây hãm. Vượt lên tất cả, Rô- mê-ô và Giu-li-ét đã đến với nhau: Mối tình của họ khẳng định sức sống, sức vươn dậy vượt lên trên mọi hoàn cảnh trói buộc con người. Mối tình đó cũng là lời kết án đanh thép, tố cáo xã hội phong kiến là mối trường thụ địch với tình người, với chú nghĩa nhân văn. Trong cuộc gặp gỡ kì duyên tại buổi dạ hội, tiếng sét ái tình đã đưa bước chân Rô-mê-ô quay trở lại, vượt tường vào vườn nhà Giu-li-ét. Vầng trăng huyền diệu, lãng mạn đã được nghe tiếng nói yêu thương cháy bỏng thốt ra từ hai con tim của hai người tuổi trẻ. Mười sáu lời thoại trong trích đoạn “Tình yêu và thù hận” chính là lời cùa tình yêu say đắm, lãng mạn đã đưa Rô-mê-ô và Giu-li-ét vượt lên trên hiện thực nghiệt nga của những toan tính, thù hận. Rô-mê-ô và Giu-Ii-ét không đối thoại với nhau ngay từ đầu vì lúc này họ chưa nhìn thấy nhau, đúng hơn là chỉ có Rô-mê-ô nhìn thấy Giu-li-ét khuất trong tán lá của khu vườn nhìn lên ban công, thấy Giu-li-ét lộng lẫy ngời lên giữa trăng sao. Chàng độc thoại mà như là đối thoại bằng những lời yêu thương có cánh. Giu-li- ét không nhìn thấy Ró-mê-ô dưới tán lá khu vườn nhưng có một chàng Rô-mê-ô hiển hiện trong tâm trí nàng cùng với hận thù giữa hai dòng họ khiến trái tim nàng thổn thức mà như có ai đó bóp nghẹt. Nàng nói với mình mà như nói cùng Rô-mê-ô. Từ lời thoại thứ bảy trở đi, ngôn từ của Rô-mê-ô và Giu-li-ét mới chuyên sang tình thế đối thoại. Sáu lời thoại đầu tiên thực chất là những lời độc thoại nội tâm nhưng được thốt lên thành tiếng, nói khe khẽ, nói một mình, chí để mình nghe. Trong toàn bộ đoạn trích, Rô-mê-ô có tất cả 8 lời thoại nhưng quan trọng hơn cả là lời thoại đầu tiên cũng là lời thoại dài nhất. Tuy đây chỉ là lời độc thoại nội tâm nhưng dưới ngòi bút nghệ thuật của Sếch-xpia, trong độc thoại dường nhơ vẫn có đối thoại, đảm bảo tính sinh động của kịch. Rô-mê-ô lúc thì như nói với Giu-li-ét vừa xuất hiện ở cửa sổ (Vầng dương đẹp tươi ơi…), lúc thì như đang đối thoại với chính mình (nàng; đang nói kìa…). Đầu tiên, khi thấy Giu-li-ét xuất hiện, Rô-mê-ô choáng ngợp trước nhan sắc tuyệt vời của nàng. Lúc này đang là đêm khuya, một đêm trăng sáng (dạ hội vừa kết thúc, Rô-mê-ô cùng bạn bè ra về nhưng chàng quay lại ngay, trèo tường vào vườn). Trong khung cảnh ấy, Rô-mê-ô dễ so sánh người đẹp với chị Hằng; nhưng dưới con mắt của chàng, vầng trán bì sao được với Giu-li-ét. nhà văn đã để cho chàng so sánh người đẹp với mặt trời mọc lúc rạng đông khiến mặt trăng thành héo hon. nhợt nhạt. Lời chỉ dẫn cho biết Giu-li-ét đã xuất hiện trên cửa sổ. Thế nhưng Ró-mê-ô vẫn nói: Vầng dương đẹp tươi ơi, hãy mọc lên đi…. Cũng như vào lúc bình minh, vầng thái dương từ từ mọc lên ở chân trời sau những tia sáng báo hiệu đầu tiên, Giu-li-ét thoáng xuất hiện ở cửa sổ rồi, nhưng nàng sẽ hiện ra rực rỡ hơn. Từ hình ảnh bao quát của Giu-li-ét, Sếch-xpia để cho mạch suy nghĩ của Rô- mê-ô tâp trung vào đôi mắt đẹp của nàng một cách khéo léo bằng cách chuyển dấn: Nàng nhìn kìa, miệng nàng có nói gì dâu… Đôi mắt nàng lên tiếng, ánh mắt lấp lánh khiến Rô-mê-ô ngỡ là đôi môi mấp máy! Hợp lí lắm. Trong khung cảnh đêm trăng. Rô-mê-ô so sánh đôi mắt nàng như hai ngôi sao đẹp nhất bầu trời. Nhưng đôi mắt nàng chỉ đẹp như hai ngôi sao thôi ư, dù đó là hai ngôi sao đẹp nhất bầu trời? Qua tâm hồn say đắm của chàng, chẳng ngôi sao nàọ có thể bì được với đổi mắt đẹp kia! Sếch-xpia để cho nhân vật của ông đặt ra mấy giả định: Sao xuống nằm dưới đôi lông mày kia ư?… Đôi mắt nàng lên thay cho sao ư?… Một cách hết sức tự nhiên, giả định thứ nhất hướng mạch suy nghĩ cùa Rô-mi-ô chuyển sang ca ngơi đôi gò má rực rỡ cùa nàng tưởng như lúc nào khổng biết, dẫn đến ý cuối cùng: Kìa, nàng tì má lên bàn tay /… Lời thoại đầu tiên đã thể hiện tầm say đắm của Rô-mê-ô trước nhan sắc người đẹp. Mạch suy nghĩ của chàng diễn ra theo trình tự hợp lí và mối liên tưởng, so sánh của chàng phù hợp với khung cảnh lúc bấy giờ. Tâm trạng Rô-mê-ô khá đơn giản. Ta chỉ bắt gặp ở chàng tình yêu say đắm không chút đắn đo. Lời thoại thứ năm (nói riêng – Mình cứ im lặng hay là lên tiếng nhỉ. Chẳng phải là dấu hiệu băn khoăn của chàng khi biết được nỗi lòng Giu-li-ét (lời thoại 4). Chàng có thể trả lời ngay, trả lời dứt khoát. Tâm trạng Giu-li-ét diễn biến phức tạp hơn. Vừa gặp Rô-mê-ô tại buổi dạ hội, bây giờ về phòng, đứng bên cửa số nhìn ra vườn trong đêm thanh vắng, tướng không có ai, nàng đã thốt lên thành tiếng nỗi niềm riêng. Những lời trực tiếp thổ lộ tình yêu mãnh liệt không chút che giấu, không chút ngượng ngùng (các lời thoại 4, 6). Qua mấy lời thoại ấy, kể cả hai tiếng ôi- chao (lời thoại 2), ta thấy Giu-li-ét tuy chưa đầy 15 tuổi mà rất chín chắn, cảm nhận được mối tình của mình có thể sẽ vấp phải trở ngại là thù hận giữa hai dòng họ. Thông thường, người con gái không chủ động thổ lộ tình yêu với người mình yêu. Do vô tình mà Giu-li-ét đã làm chuyện đó. Khi biết có kẻ đã nghe được nỗi lòng của mình, mới đầu có thể nàng nghi người đứng khuất trong bóng tối kia là kẻ xa lạ (lời thoại 8), rồi nàng rõ đó chính là Rô-mê-ô (lời thoại 10). Trong lời thoại 10, chẳng phải ngẫu nhiên Giu-li-ét lại nhắc đến dòng họ Môn-ta-ghiu của Rô-mê-ô, mối thù hận của hai dòng họ vẫn ám ảnh nàng. Các lời đáp của Rô-mê-ô (lời thoại 7, 9, I I) với các từ ngữ người yêu, nàng tiên yên quý, với quyết tâm dứt khoát dứt bỏ dòng họ Môn-ta-ghiu chưa bảo đảm tình yêu thật sự của Rô-mê-ô đối với nàng. Vì vậy Giu-li-ét mới hỏi một câu tưởng như thừa: Anh làm thế nào mà tới được chốn này, anh ơi, và tới làm gì thế? Lời đáp của Rô-mê-ô (lời thoại 13) với từ tình yêu lần đầu được nói đến và nhắc đi, nhắc lại tới bốn lần dù làm cho Giu-li-ét tin rằng Rô-mê-ô yêu mình. Nàng tin vào tình yêu nhưng nàng vẫn chưa thể tin tưởng tuyệt đối về sức mạnh của tình yêu. Chàng đã vượt được mấy bức tường đá vào đây, nhưng liệu có việc được mối hận thù giữa hai dòng họ hay không? Lời đáp của Rô-mê-ô (lời thoại 15) đã giải tỏa mối băn khoăn của Giu-li-ét và câu: Em chẳng đời nào muốn họ bắt anh nơi đây là lời nàng tế nhị chấp nhận tình yêu của Rô-mê-ô, khác hẳn với những lời lẽ quá bạo dạn lúc đầu khi nàng tưởng không có ai nghe thấy. Diễn biến tâm trạng của Giu-li-ét thể hiện rõ nàng yêu Rô-mê-ô nhưng không biết Rô-mê-ô có yêu mình không, nàng sẵn sàng vượt qua thù hận giữa hai dòng họ nhưng không biết Rô-mê-ô có sẵn sàng vượt qua như thế không. Qua 16 lời thoại, vấn đề tình yêu và thù hận đã được giải quyết. Xung đột được coi là đặc trưng cơ bản của kịch. Xung đột trong kịch là sự va chạm gay gắt giữa những lực lượng đối địch, giữa hai hoặc nhiều nhân vật, nhiều quan điểm, thái độ khác nhau trước cùng một tình huống, hoặc giữa cá nhân với hoàn cảnh; xung đột cụng có thể xảy ra ngay trong lòng người. Xung đột kịch chi phối hành động của các nhân vật và từng bước đòi hỏi phải được giải quyết để thúc đẩy hành động kịch. Thông thường, xung đột là cơ sở của hành động kịch. Tuy nhiên, không phải bất cứ hành động kịch nào cũng được xây dựng trên cơ sở các xung đột. Trong đoạn trích “Tình yên và thù hận”, ta dễ nghĩ rằng có xung đột giữa tình yêu của Rô-mê-ô và Giu-li-ét với mối thù hận giữa hai dòng họ Ca-piu-lét và Môn-ta-ghiu. Đúng là mối hận thù giữa hai dòng họ có thể cản trở mối tình của đôi trẻ. Nhưng với tất cả những diễn biến tâm lí của Rô-mê-ô và Giu-li-ét diễn ra qua 16 lời thoại, ta không thấy có sự xung đột nào cả, không có một lực lượng nào xuất hiện cản trở tình yêu của họ. Rô-mê-ô gặp Giu-li-ét và yêu nàng không một chút băn khoăn, đắn đo, không có sự giằng xé nội tâm. Trước sau, vì tình yêu, Rô-mê-ô sẵn sàng từ bỏ tên họ của mình, chàng cũng đã khẳng định điều đó nhiều lần với Giu-li ét. Giu-li-ét có nhiều băn khoăn, nhưng là băn khoăn không biết Rô-mê-ô có vượt qua được mối hận thù kia không, băn khoăn về phía Rô-mê-ô chứ không phải về bản thân nàng. Có thể nói, ở đây không có xung đột giữa giữa tình yêu và thù hận mà chỉ có tình yêu trong sáng, mãnh liệt vượt lên trên hận thù. Khát vọng tình yêu luôn luôn cháy trong trái tim con người nhưng không phải ai cũng đủ dũng khí và sức mạnh để đưa tình yêu vượt lên mọi rào cản. Sức mạnh phải được tạo nên bởi sự cộng hưởng của hai trái tim yêu. Rô-mê-ô và Giu-li-ét chỉ bằng 16 lời thoại đã cho chúng ta thấy rõ sức mạnh của sự cộng hưởng ấy. Họ không chỉ đưa tình yêu vượt qua rào cản mà còn khiến tình yêu thăng hoa để trở thành bất tử. Thiên tài nghệ thuật của Sếch-xpia cùng với tư tưởng nhân văn của thời đại ông đã cộng hưởng để làm nên điều kì diệu đó. Phân tích đoạn trích Đình công và nổi dậy (trích vở kịch Kim Tiền) Vi Huyền Đắc là nhà văn, nhà giáo, nhà biên khảo, nhà soạn kịch tài năng. Kịch của ông đề cao chân thiện mỹ, ca tụng đạo đức, đề cao ý chí nghị lực con người, bênh vực tầng lớp dân nghèo, phu thợ lầm than bị chủ bóc lột, đòi sự công bằng, đạo lý. Kim tiền là vở kịch nổi tiếng nhất của ông, được đăng trên báo Ngày nay từ số 99 đến số 107 và được diễn lần đầu tại Nhà hát Tây Hải Phòng năm 1938. Tác phẩm là thể nghiệm bi kịch đầu tiên của các nhà viết kịch Việt Nam, đặt nền móng cho thể loại bi kịch và sự thành công của các tác phẩm thuộc thể loại này. Đoạn trích Đình công và nổi dậy thuộc đoạn thứ bốn của vở kịch, kể về cuộc đấu tranh của công nhân dưới sự áp bức bóc lột nặng nề của ông chủ mỏ Trần Thiết Chung. Qua đoạn trích, ta thấy được thông điệp của tác giả muốn gửi đến người đọc, đó là hãy giữ được bản tính, phẩm giá của mình, đừng chạy theo đồng tiền và bị nó cám dỗ, tha hóa. Kim tiền kể về Trần Thiết Chung, người vốn là một văn sĩ, sống thanh bần, quyết không để tiền bạc, vật chất chi phối, “không dấn thân vào những chỗ hôi tanh, u ám”. Ông đã từng định đốt tờ ngân phiếu ghi số tiền lớn mà ông nhà giàu Cự Lợi biếu vì Cự Lợi muốn nhờ ông ủng hộ trong vận động dân cử, dân biểu. Nhưng rồi vì phải chiều theo ý vợ và hiểu ra “ta cũng giống như muôn nghìn người khác, ta không thể thoát li ra ngoài cái vòng tôi mọi của đồng tiền được”, Trần Thiết Chung đã dần thay đổi. Từ một văn sĩ thanh liêm, nghèo khó nhưng giàu lòng tự trọng; ông trở thành nhà đại tư bản Trần Thiết Chung. Có nhiều tiền, ông khai thác mỏ, xây biệt thự, lấy thêm vợ… Trong khi đó, người con trai cả tên Bích chỉ biết ăn chơi, vì tiền mà mâu thuẫn ngày càng trở nên căng thẳng với cha và gia đình. Do hám lời, gia đình chủ mỏ Trần Thiết Chung đã ra sức bóc lột người lao động dẫn tới kết cục bi thảm… Đoạn trích Đình công và nổi dậy thuộc đoạn thứ bốn của vở kịch kể về cuộc đấu tranh của cu-li mỏ Tiêu Giao do sự áp bức bóc lột nặng nề của ông chủ mỏ Trần Thiết Chung. Diễn biến đầy gay cấn của cuộc nổi dậy được miêu tả rõ qua từng chi tiết. Kết cục, ông chủ mỏ đã chết, vợ và con ông Chung đang tranh nhau chìa khóa mở két tiền thì những người cu-li nổi dậy đã ùa vào. Màn hạ, để lại dư âm đầy đau xót về sự tha hóa của con người trước đồng tiền. Đồng tiền đã biến con người thành kẻ độc ác, bất chấp tình nghĩa và đạo lí làm người. Cuộc đình công và nổi dậy của cu – li mỏ được tái hiện trong đoạn trích đã thể hiện mâu thuẫn không thể giải quyết giữa gia đình ông Chung với những cu-li lao động ở mỏ. Diễn biến của cuộc nổi dậy và mâu thuẫn này được thể hiện qua miêu tả của tác giả ở thái độ, lời nói, hành động của ông Chung và những người lao động trong vai “tiếng ở dưới đường”. Ông Chung là chủ mỏ Tiêu Giao, có thái độ rất coi thường người lao động và cuộc nổi dậy “không sợ… cửa sổ toàn bằng gỗ lim nạm sắt, chúng nó có phá được còn khó…”. Khi phát hiện phu mỏ đình công, đang tiến dần tới dinh thự; ông đã gọi tê-lê-phôn cho quan đồn để xin điều lính có súng xuống trợ giúp dẹp cuộc nổi dậy, đàn áp người lao động; tự tin an ủi vợ “Mình không ngại, thế nào họ cũng đến kịp... Dầu chúng nó có gậy gộc, cuốc xẻng cũng không sao đến gần mình được…. Mình đừng ngại”. Ông không sợ hãi khi đối mặt với người lao động, bỏ qua sự can ngăn của vợ vì không cho rằng họ dám làm gì nguy hiểm hơn: “Ô hay, sợ cái gì… Mình cứ để tôi ra xem chúng nó nói gì… Có súng đây, sợ gì”. Khi điều đình với người lao động, vẫn giữ thái độ bề trên, coi thường; lời lẽ đanh thép, trịch thượng, không nhận ra sai lầm của mình, quát “Các anh đừng có nói bậy…” và không thừa nhận “bỏ các anh em chết đói”. Không những thế, ông còn đổ tội cho người lao động:” Nếu các anh đi làm ăn cẩn thận, có ngày nào không phát gạo, phát hàng” chứ không nhận ra việc phát gạo phát hàng thối mốc không thể ăn được là lỗi của mình. Ông ta đe dọa họ: “Lần này là lần cuối cùng, tôi ra lệnh cho các anh, ai phải về trại ấy ngay lập tức” và “Nếu ai không nghe lời, còn đứng lảng vảng ở ngoài đường, lính ở đồn xuống ngay bây giờ, tôi sẽ hạ lệnh bắn về tội phiến loạn”. Trái ngược với ông Chung, những người lao động – vai “tiếng ở dưới đường” là những người cùng khổ, bán sức lao động để kiếm miếng cơm nhưng do bị bóc lột quá tàn tệ đến mức không chịu được nên mới đình công và bảo nhau nổi dậy để thay đổi hoàn cảnh. Họ hỏi ông Chung đầy thống thiết: “Ông chủ đem anh em chúng tôi ra đất rừng rú này… rồi bỏ chúng tôi chết đói hay sao?” Họ lí giải nguyên nhân mình đình công là do “ông phát gạo kém, gạo xấu, không ăn được, cá mắm thối” – hoàn cảnh sinh hoạt quá kham khổ, thiếu thốn, không đảm bảo yêu cầu cơ bản về thức ăn. Khi kêu ca do phải nhận gạo xấu, cá mắm thối thì “cai lại đánh đập chúng tôi”… Họ bị đàn áp cả về mặt thân thể và tinh thần, đến mức phải thốt lên rằng “Ông hành hạ chúng tôi quá…”, “Ông chỉ biết ăn no, ông bỏ chúng tôi chết đói à? Ông ác nghiệt quá… Ông chủ… Ông ác nghiệt quá…” Khi bị ông Chung đe dọa cho quân lính bắn, họ không chịu nổi nên càng phản kháng và dẫn đến cái chết của chủ mỏ. Có thể nói, mâu thuẫn của những người cu-li mỏ với gia đình ông Chung là mâu thuẫn muôn đời giữa người lao động và tư bản, một bên là áp bức, bóc lột tàn tệ và một bên là khổ sở, bị vắt kiệt sức lao động mà không được đảm bảo các điều kiện làm việc tối thiểu. Nhân vật ông Chung đại diện cho những người có chức, có quyền trong xã hội, giàu có nhưng lại bóc lột sức lao động của công nhân. Người lao động đại diện cho những người đấu tranh đòi lại công bằng, tự do. Mâu thuẫn giữa họ là không thể điều hòa được do quan điểm, lợi ích của hai tầng lớp khác biệt với nhau. Tác giả đã thể hiện mâu thuẫn này một cách rõ nét qua các chi tiết diễn biến đầy căng thẳng của cuộc nổi dậy. Bên cạnh việc tái hiện mâu thuẫn giữa hai giai cấp, đoạn trích còn thể hiện bi kịch tha hóa đạo đức của con người trước sức cám dỗ của đồng tiền. Điều này thể hiện rõ nét qua gia đình ông Chung. Ông Chung là một ông chủ mỏ, có cuộc sống giàu có, sung sướng: thể hiện ở việc trang phục “bộ pi-ja-ma” và “áo dài trắng” của ông và vợ; thói quen nghỉ trưa hàng ngày và dinh thự có cửa “toàn là gỗ lim” của ông. Thế nhưng, sự sung sướng đó của ông được làm nên từ mồ hôi, nước mắt, công sức của biết bao người phu mỏ. Ông là chủ mỏ nhưng không đảm bảo nổi những yêu cầu cơ bản nhất của người làm việc cho mình, đó là được ăn no mà ông vì đồng tiền của bản thân mà bóc lột họ một cách tàn tệ. Ông vì đồng tiền mà“phát gạo kém, gạo xấu, không ăn được, cá mắm thối…” cho người lao động, khiến họ bị đói không có sức đi làm; huống hồ công việc khai thác ở mỏ lại vô cùng vất vả và cần sức lực. Ông đã không còn có được đạo đức cơ bản của người làm chủ, mà đã bị mờ mắt bởi lợi ích, bởi đồng tiền. Ông vì đồng tiền, vì lợi ích bản thân mà đàn áp, cai trị bằng bạo lực: ông “ác nghiệt”, “hành hạ” người lao động, để cai đánh đập họ. Khi xảy ra đình công, nổi dậy thì ông ngay lập tức gọi điện cho quan đồn xin lính có vũ khí xuống để đàn áp họ. Nhân vật bà Ba, vợ ông Chung xuất hiện trong đoạn trích chủ yếu ở những cảnh thể hiện thái độ lo lắng, sốt ruột cho an toàn của bản thân trước cuộc nổi dậy của phu mỏ. Nhưng trong phần cuối đoạn trích, tác giả đã cho thấy sự tha hóa về mặt đạo đức, sự tham lam của người đàn bà này. Ngay khi ông Chung bị bắn, bà vẫn thể hiện sự lo lắng, sốt ruột; nhưng sau khi kêu khóc và “mặt ngơ ngác như hóa điên” thì bà lại không tiếp tục tìm cách cứu chồng mà “thò tay móc túi ông túi bên phải, túi bên trái, rồi bà rút ra một chùm chìa khóa. Bà đi ra tủ két tìm chìa khóa cho vào lỗ khóa” nhằm tìm tài sản, phục vụ cho bản thân. Nhân vật cả Bích chỉ xuất hiện chớp nhoáng trong cảnh cuối, cũng không có lời thoại nào, nhưng lại thể hiện một cách rõ nét nhất sự tha hóa về mặt nhân cách đạo đức của con người. Hắn là con nhưng không hề lo lắng cho an toàn của cha mẹ, thậm chí khi nhảy từ cửa sổ vào, thấy cha chết cũng điềm nhiên như không mà chỉ “đứng nhìn các phía rồi chạy xông lại phía tủ két”. Quá đáng hơn, hắn “nhảy xổ vào giơ hai tay bóp cổ” rồi “đẩy bà Ba ngã ra đấy, rồi ra tủ két mở tủ”. Hành động bất hiếu, bất nhân của cả Bích là đỉnh điểm của sự tha hóa nhân cách do mờ mắt bởi lợi ích của đồng tiền. Qua ba nhân vật trong gia đình ông Chung, tác giả đã khắc họa rõ nét sự biến chất, tha hóa về mặt đạo đức, nhân cách con người của những nhân vật này. Họ đã bị che mắt bởi cám dỗ của đồng tiền mà sẵn sàng bán rẻ lương tâm, đánh mất những đạo nghĩa cơ bản nhất của con người. Không chỉ hấp dẫn người đọc bởi thông điệp giàu ý nghĩa, đoạn trích còn thu hút người đọc bởi những nét đặc sắc về mặt nghệ thuật. Trước hết, tác giả đã xây dựng xung đột kịch gay gắt thể hiện nội dung chủ đề của đoạn trích. Tác giả tạo ra xung đột trong hai tuyến nhân vật, giữa một bên là gia đình ông chủ Chung và một bên là người lao động. Xung đột của hai tuyến nhân vật này là xung đột về mặt lợi ích, không thể điều hòa do khác biệt về quan điểm. Đồng thời, tác giả tạo xung đột tâm lí để cho các nhân vật trải qua các thử thách về tâm lí, đạo đức: ông Chung khi nghe phản ánh sự “ác nghiệt” của mình, việc phát gạo mốc, cá mắm thối… của mình sẽ xử lí thế nào? Bà Ba trước cái chết của chồng và việc tìm tài sản duy trì lợi ích bản thân thì chọn lựa thế nào? Cả Bích xử sự ra sao? Đó chính là những xung đột tâm lí trong nội tâm nhân vật, và lựa chọn của họ đã cho thấy rõ tính cách, phẩm chất của họ. Đặc biệt, tác giả còn đưa nhân vật vào trong tình huống khó khăn buộc phải đối đầu thông qua các lời chỉ dẫn sân khấu và lời thoại nhân vật làm tăng sự căng thẳng cho người đọc: việc người lao động đốt nhà kho, lời nói thảng thốt của loong toong, lời dẫn về mức độ căng thẳng của cuộc nổi dậy… Ngôn ngữ là yếu tố vô cùng quan trọng trong thể loại kịch, vì kịch chỉ có số ít lời dẫn sân khấu, còn lại đều tập trung vào ngôn ngữ nói của nhân vật. Tác giả đã dụng tâm trong việc sử dụng ngôn ngữ đối thoại, độc thoại đặc sắc, làm nổi bật lên tính cách của nhân vật và mâu thuẫn, xung đột trong vở kịch. Những màn đối thoại, độc thoại trong đoạn trích được sáng tạo sắc nét không những giúp nhân vật bộc lộ suy nghĩ, tính cách mà còn giúp người đọc hiểu được những suy ngẫm triết lý sâu sắc được gửi gắm. Lời thoại của mỗi tuyến nhân vật đều thể hiện được suy nghĩ, tình cảm của nhân vật: nhân vật ông Chung với lời thoại thể hiện sự coi thường người lao động, bà Ba với sự sốt ruột luống cuống khi lo cho ích lợi bản thân, người lao động thể hiện sự uất ức, dồn nén… Bên cạnh đó, đoạn trích còn có những nét đặc sắc nghệ thuật khác, thể hiện tài năng của tác giả. Đó là lời chỉ dẫn sân khấu và hành động kịch. So với các tác phẩm kịch thì trong đoạn trích xuất hiện khá nhiều lời chỉ dẫn sân khấu, miêu tả cặn kẽ tâm lí và hành động của các nhân vật, thể hiện diễn biến căng thẳng của cuộc nổi dậy. Từ việc miêu tả tiếng ồn ào từ xa đến gần thể hiện được bước tiến của những người cu – li mỏ; miêu tả nét mặt của ông Chung, bà Ba thể hiện sự lo lắng, luống cuống và ngày càng sốt ruột hay hành động vội vã của người loong toong, hành động của cả Bích cuối đoạn trích… đều khắc họa rõ nét từng sự thay đổi nhỏ nhất của diễn biến đoạn trích… Tác giả cũng dùng các hành động kịch để thể hiện rõ tính cách, hoàn cảnh nhân vật. Hành động của ông Chung: gọi điện xin lính đàn áp, an ủi vợ, lấy súng, ra cửa sổ, đối chất với phu mỏ, đe dọa phu mỏ… thể hiện sự coi thường người lao động, khinh miệt họ đến tận cùng. Hành động lục lọi túi khi chồng chết của bà Ba để lấy chìa khóa tìm tài sản cho thấy sự ích kỉ, khắc bạc của bà ta. Hành động bóp cổ mẹ, đẩy ngã và chiếm chìa khóa của cả Bích thể hiện sự mất nhân cách đạo đức của hắn. Với những nét đặc sắc về nghệ thuật làm nổi bật nội dung chủ đề của tác phẩm, đoạn trích Đình công và nổi dậy đã khắc họa được mâu thuẫn không thể điều hòa trong xã hội giữa giai cấp tư bản bóc lột và người lao động, qua đó gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh về sự suy đồi đạo đức, nhân cách của con người trước cám dỗ của đồng tiền. Những thông điệp mà tác giả gửi gắm qua đoạn trích khiến em và chắc hẳn rất nhiều người phải suy nghĩ, trăn trở. Mỗi chúng ta hãy sống một cách trong sạch, giữ vững được nhân cách, đừng để bị tha hóa, đừng để bị đồng tiền điều khiển.
Xem thêm
Bài tham khảo 2
Bài tham khảo 3
|


Danh sách bình luận