Top 45 Đoạn văn nghị luận phân tích tác phẩm thơ tự do hay nhất1, Mở đoạn (khoảng 30 chữ): - Giới thiệu tên bài thơ, tác giả và thể thơ tự do. - Nêu ấn tượng chung: Bài thơ là tiếng lòng phóng khoáng, sâu sắc về [chủ đề: tình yêu/quê hương/chiến tranh...].
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn
Dàn ý 1, Mở đoạn (khoảng 30 chữ): - Giới thiệu tên bài thơ, tác giả và thể thơ tự do. - Nêu ấn tượng chung: Bài thơ là tiếng lòng phóng khoáng, sâu sắc về [chủ đề: tình yêu/quê hương/chiến tranh...]. 2, Thân đoạn (khoảng 140 chữ): - Phân tích nội dung: Mạch cảm xúc được thể hiện qua các hình ảnh thơ mới lạ, chân thực. - Phân tích nghệ thuật: + Cấu trúc không gò bó: Số câu, số chữ tự do, xuống dòng linh hoạt giúp nhấn mạnh ý tưởng và cảm xúc. + Nhịp điệu: Nhịp điệu thơ linh hoạt, nhanh/chậm theo dòng cảm xúc nội tâm, không phụ thuộc vần điệu khuôn mẫu. + Ngôn ngữ: Giản dị, giàu tính gợi hình, gợi cảm. 3, Kết đoạn (khoảng 30 chữ): - Khẳng định lại giá trị của tác phẩm. - Nêu cảm nhận cá nhân: Bài thơ để lại dư âm sâu sắc về (nỗi buồn/niềm tin…) nhờ sự tự do, chân thành. Bài siêu ngắn Mẫu 1 Bài thơ “Đàn ghi ta của Lor-ca” của Thanh Thảo là một tác phẩm tiêu biểu của thơ tự do hiện đại. Không tuân theo niêm luật truyền thống, bài thơ được viết với hình thức phóng khoáng, câu ngắn dài linh hoạt, giàu tính tượng trưng. Hình ảnh Lor-ca cùng tiếng đàn ghi ta vừa mang tính hiện thực, vừa gợi nhiều tầng ý nghĩa về nghệ thuật và cái chết. Ngôn ngữ giàu tính nhạc, nhiều liên tưởng độc đáo đã tạo nên một không gian thơ vừa mơ hồ vừa ám ảnh. Qua đó, tác giả thể hiện niềm thương tiếc và sự trân trọng đối với người nghệ sĩ tài hoa, đồng thời khẳng định sức sống bất tử của nghệ thuật. Bài siêu ngắn Mẫu 2 Bài thơ “Đất Nước” (trích trường ca Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm là một tác phẩm tiêu biểu của thơ tự do hiện đại. Bài thơ không bị ràng buộc bởi niêm luật, câu thơ dài ngắn linh hoạt, giàu tính suy tưởng. Tác giả không nhìn Đất Nước qua những khái niệm lớn lao mà bắt đầu từ những điều bình dị: miếng trầu, câu chuyện cổ, phong tục tập quán… Qua đó, ông khẳng định tư tưởng sâu sắc: Đất Nước được làm nên từ nhân dân, do nhân dân gìn giữ và phát triển. Giọng điệu trữ tình kết hợp chính luận làm cho bài thơ vừa giàu cảm xúc vừa mang tính khái quát cao. Ngôn ngữ giản dị mà giàu sức gợi đã góp phần thể hiện tình yêu quê hương tha thiết và ý thức trách nhiệm của mỗi con người đối với Đất Nước. Bài siêu ngắn Mẫu 3 Bài thơ “Nói với con” của Y Phương là một tác phẩm thơ tự do giàu cảm xúc, thể hiện tình cảm gia đình và niềm tự hào về quê hương. Không bị ràng buộc bởi niêm luật, câu thơ ngắn dài linh hoạt, mang giọng điệu tâm tình, gần gũi như lời cha nói với con. Hình ảnh “người đồng mình” mộc mạc mà giàu ý nghĩa, biểu tượng cho con người quê hương sống chân thành, bền bỉ và giàu nghị lực. Qua đó, tác giả gửi gắm mong muốn con hãy biết trân trọng Bài tham khảo Mẫu 1 Bài thơ Con chào mào của Mai Văn Phấn đã để lại cho tôi nhiều ấn tượng. Trước hết, khi đọc bài thơ, tôi có thể hình dung ra hình con chim chào mào được khắc họa trong thực tế. Những câu thơ mở đầu cho thấy vị trí “trên cây cao chót vót” cùng với đó là những đặc điểm của loài chim chào mào - “đốm trắng, mũ đỏ”; tiếng kêu “triu… uýt… huýt… tu hìu…”. Tác giả sử dụng bút pháp tả thực nhằm tạo nên một bức tranh thiên nhiên ngập tràn màu sắc, âm thanh. Tiếp đến, Mai Văn Phấn đã xây dựng hình ảnh con chim chào mào trong suy nghĩ của nhân vật trữ tình - “tôi”. Ở đây, “tôi” đã vẽ lên một chiếc lồng để nhốt con chim chào mào vì sợ nó bay đi. Hình ảnh “chiếc lồng” được đan dệt bằng trí tưởng tượng. Qua đó, chúng ta mới thấy được cái khao khát muốn độc chiếm cái đẹp của thiên nhiên. Nhân vật “tôi” vừa vẽ xong thì chào mào vụt cánh bay đi. Hành động “tôi ôm khung nắng, khung gió, nhành cây” - đó là khao khát muốn ôm trọn không gian thiên nhiên rộng lớn. Động từ “ôm” kết hợp với các danh từ “nắng”, “gió”, “nhành cây” thể hiện khao khát được mở rộng “chiếc lồng” của nhân vật tôi thành bất tận, để tâm hồn mình bao trùm cả thiên nhiên. Không gian đầy “nắng, cây, gió” hiện lên với mong muốn níu giữ con chim và tiếng hót. Nhưng lại “vô tăm tích” - cụm từ cho thấy sự vô thủy, vô chung của thiên nhiên, vũ trụ. Từ đó mà “tôi” phải tự mình tưởng tượng ra hình ảnh con chim chào mào đang mổ những con sâu, ăn trái cây chín đỏ, uống từng giọt nước. Hai câu thơ cuối cho thấy con chim đã bay xa. Nhưng trong tâm tưởng của nhà thơ, con chim vẫn còn đó. Nhân vật “tôi” vẫn cảm nhận được sự hiện diện của con chim chào mào. Tác giả đã cho chúng ta hiểu được rằng tình yêu thiên nhiên vẫn hiện hữu dù ở bất cứ nơi đâu. Bài thơ Con chào mào gửi gắm cho người đọc về tình yêu thiên nhiên, khao khát tự do của nhà thơ. Bài tham khảo Mẫu 2 Một trong những bài thơ hay viết về tình mẫu tử có thể kể đến “Mây và sóng” của Ta-go. Nhân vật trữ tình của bài thơ là một em bé. Em đang kể lại cho mẹ nghe về cuộc trò chuyện của mình với người “trên mây” và “trong sóng”. Bởi vậy, bài thơ mang giọng điệu hồn nhiên, vui tươi. Những câu thơ đã thể hiện điều đó như: “Mẹ ơi, trên mây có người gọi con”, “Trong sóng có người gọi con”. Với em bé, thế giới của người “trên mây” và “trong sóng” mang vẻ kì diệu, rất hấp dẫn. Ở đó, các bạn sẽ được dạo chơi từ lúc thức dậy cho đến lúc hoàng hôn, được khám phá những điều kỳ thú trên bầu trời, hay dưới mặt biển. Bởi vậy, em bé rất tò mò, mong được trải nghiệm: “Nhưng làm thế nào mình lên đó được?”, “Nhưng làm thế nào mình ra ngoài đó được?”. Câu hỏi trên giúp chúng ta hiểu được khao khát khám phá của trẻ thơ. Dù ham chơi, thích khám phá nhưng khi nghe câu trả lời của người “trên mây” hay “trong sóng”, em bé đã kiên quyết từ chối: “Làm sao có thể rời mẹ mà đến được?”, “Làm sao có thể rời mẹ mà đi được?”. Có thể thấy, tình cảm yêu thương của em bé dành cho người mẹ, cũng như mong muốn luôn ở bên mẹ của em bé thật rõ ràng. Và rồi, chính em bé đã nghĩ ra một trò chơi thật kì diệu có thể thực hiện cùng với mẹ. Dù ở bất cứ nơi đâu, em bé vẫn muốn ở cùng với mẹ. Bài thơ được viết theo kiểu thơ tự sự, không bị ràng buộc bởi luật thơ, cách gieo vần. Âm điệu nhịp nhàng, hình ảnh giàu tính biểu tượng, ngôn ngữ cô động đã góp phần khiến cho bài thơ giàu cảm xúc hơn. Bài thơ đã giúp người đọc cảm nhận được tình cảm mẫu tử chân Bài tham khảo Mẫu 3 “Một con mèo nằm ngủ trên ngực tôi” của nhà thơ Anh Ngọc là một bài thơ thú vị. Khi đọc bài thơ, người đọc đã cảm nhận được tình cảm yêu mến, trân trọng của nhân vật “tôi” dành cho con mèo của mình. Mở đầu, tác giả đã khắc họa hình ảnh con mèo đang nằm ngủ trên ngực của “tôi” hiện lên đầy sinh động qua các chi tiết: “đôi mắt biếc trong veo, hàm răng nhọn hoắt, móng vuốt khép lại, ngủ như đứa trẻ giữa vòng tay ấp ủ”. Tác giả đã có một so sánh thật độc đáo, hình ảnh con mèo nằm ngủ trên ngực giống như một đứa trẻ, đang nằm ngủ say giấc. Qua đó, người đọc cảm nhận được vẻ đáng yêu, ngộ nghĩnh của con mèo. Và tâm trạng của nhân vật “tôi” trước hình ảnh này là niềm hạnh phúc, tràn ngập tình yêu thương dành cho con mèo của mình: “Trái tim tôi trong một phút bỗng mềm đi/Một nỗi gì lâng lâng như hạnh phúc”. Câu thơ sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, nhằm diễn tả cảm xúc của nhân vật “tôi” lúc này, trái tim trở nên mềm mại, tan chảy trước vẻ đáng yêu con mèo. Đến khổ cuối, tác giả đã sử dụng kết hợp các biện pháp tu từ điệp ngữ “ngủ đi” cùng với hoán dụ (đôi tai vểnh ngây thơ, cái đuôi dài bướng bỉnh, hàng ria mép ngang tàng, đôi mắt biếc trong veo - chỉ con mèo) và ẩn dụ (con hổ con kiêu hãnh) nhằm diễn tả sinh động vẻ đẹp hình thể và tính cách của con mèo, gợi liên tưởng thú vị sâu sắc cho người đọc. Đọc bài thơ, chúng ta có những cảm xúc thật đẹp đẽ, cũng như rút ra được bài học cẩn phải sống yêu thương các loài động vật hơn. Bài tham khảo Mẫu 4 Tôi rất thích bài thơ Lá đỏ của Nguyễn Đình Thi. Bài thơ được sáng tác theo thể thơ tự do, từ đó góp phần thể hiện nội dung cũng như diễn tả cảm xúc của nhân vật trữ tình. Đọc những câu thơ đầu, tôi cảm thấy ấn tượng với không gian diễn ra cuộc gặp gỡ tình cờ của nhân vật trữ tình với “em”. Đó là giữa rừng Trường Sơn “lộng gió”, “rừng lạ ào ào lá đỏ”, “bụi Trường Sơn nhòa trời lửa”. Các hình ảnh vẽ lên khung cảnh rừng Trường Sơn khoáng đạt, gợi ấn tượng vừa lãng mạn. Bốn câu thơ tiếp theo là hình ảnh con đường Trường Sơn mùa ra trận. Đặc biệt nhất có lẽ là hình ảnh các cô gái thanh niên xung phong được khắc họa chân thực. Cách gọi “em gái tiền phương” nghe thật gần gũi, nhưng cũng đầy sự trân trọng. Tôi cảm nhận được vẻ đẹp vừa thân thương, gần gũi, giản dị; vừa dũng cảm, kiên cường, vững vàng khi làm nhiệm vụ. Tiếp đến, hình ảnh đoàn quân trên đường ra tiền tuyến đã gợi lên không khí hào hùng, thần tốc trong khung cảnh “bụi Trường Sơn nhòa trời lửa”. Hai câu thơ cuối của bài thơ là lời chào tạm biệt và lời hứa hẹn gặp lại giữa Sài Gòn khi đất nước ta thống nhất. Hai câu cuối là lời hứa hẹn về ngày trở lại khi đất nước đã giành được độc lập. Bài thơ “Lá đỏ” là một bài thơ giàu ý nghĩa. Bài tham khảo Mẫu 5 Bài thơ Những cánh buồm của Hoàng Trung Thông đã gửi gắm nhiều thông điệp giá trị về tình cảm cha con. Mở đầu, tác giả đã vẽ nên một bức tranh rất đẹp đẽ. Trong tranh, cha đang dắt con đi dạo trên bãi biển. Ánh mặt trời chiếu xuống, phản chiếu bóng của cha và con. Bóng cha dài lênh khênh còn bóng con lại tròn chắc nịch. Hình ảnh này gợi ra sự khác biệt giữa hai thế hệ. Người cha mang dáng vẻ trưởng thành, còn đứa con thì nhỏ bé. Cha và con bước đi trong một khung cảnh thiên nhiên đầy thơ mộng. Bãi cát trải dài mịn màng, nước biển thì trong xanh. Ánh nắng của buổi sớm mai mang sắc hồng rực rỡ. Lắng nghe tiếng bước chân của con, lòng cha cảm thấy vui vẻ, sung sướng. Thế rồi, đứa con bỗng chỉ về phía xa và hỏi người cha. Câu hỏi chứa đựng sự tò mò của trẻ thơ, khao khát được chinh phục, khám phá thế giới. Tiếng “Cha ơi!” vang lên có chút trìu mến, thân thương. Cha mong rằng con có được khám phá thế giới rộng lớn ngoài kia. Đến những câu thơ cuối, hình ảnh người cha dắt con đi được lặp lại. Người cha dường như bắt gặp bản thân ở trong đứa con. Và người cha gửi gắm mong muốn đó vào đứa con thân yêu của mình. Hoàng Trung Thông đã sử dụng hình ảnh gần gũi, giản dị cùng với giọng điệu hồn nhiên, trong sáng. “Những cánh buồm” là một bài thơ có thông điệp giá trị về tình cảm cha con. Tôi rất yêu thích bài thơ Những cánh buồm. Bài tham khảo Mẫu 6 Tình cảm cha con luôn là thứ tình cảm thiêng liêng nhất đối với mỗi người. Trong bài thơ "Những cánh buồm" của nhà thơ Hoàng Trung Thông là một tác phẩm để lại ấn tượng sâu sắc với em. Hình ảnh hai cha con trong bài thơ hiện lên thật ấm áp bởi những hành động quan tâm của người cha: người cha nắm lấy tay con, dắt con đi, mỉm cười xoa đầu con nhỏ. Đó là những hành động thể hiện tình yêu thương vô bờ bến của người cha đối với con. Những hành động đó thật gần gũi bình dị. Qua đó ta có thể cảm nhận được tình cảm yêu thương, trìu mến mà người cha dành cho đứa con bé bỏng của mình. Người cha đã khơi gợi lên những tò mò thú vị về thế giới xa lạ ngoài kia cho đứa con của mình. Động viên đứa trẻ ấy đứng lên khám phá những điều mới mẻ bằng chính đôi chân của mình. Sự ủng hộ của người cha chính là động lực để con vững bước trên con đường đời. Được lớn lên trong tình yêu thương vô bờ bến của cha, trong suy nghĩ non nớt của một đứa trẻ con muốn mượn cha cánh buồm trắng để rong ruổi ra khơi. Hành động đó cho thấy sự tin tưởng mà người con dành cho cha mình. Bài thơ khép lại cho chúng ta thấy những rung cảm về tình phụ tử thiêng liêng và ấm áp không gì có thể thay đổi được. Gia đình luôn là điểm tựa đối với mỗi chúng ta vì vậy chúng ta cần yêu quý những thành viên trong gia đình mình. Bài tham khảo Mẫu 7 Với tình yêu tha thiết dành cho những câu chuyện cổ tích nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ đã xây dựng một thế giới truyện cổ tích Việt Nam sống động qua tác phẩm "Truyện cổ nước mình". Đây là một trong những bài thơ em yêu thích nhất. Đây là tác phẩm nuôi dưỡng cho mỗi người tình yêu sự tự hào về kho tàng văn học quý báu của nước ta những câu chuyện cổ tích của bà, của mẹ là nguồn nuôi dưỡng tâm hồn với mỗi chúng ta khi còn nhỏ. Trở thành những ký ức tuyệt đẹp giáo dục con người biết cách sống, kể cho mỗi chúng ta từ khi mới lọt lòng những câu chuyện, đó là kết tinh những truyền thống tốt đẹp của dân tộc tình nghĩa thủy chung, ở hiền gặp lành. Những truyền thống đó được gửi gắm qua những câu chuyện cổ tích để nhắn nhủ con cháu đời sau hãy sống trở thành người có ích. Qua bài thơ nhà thơ khẳng định những câu chuyện cổ tích đó đã trở thành hành trang quá trình trưởng thành của mỗi con người Việt Nam. Những bài học nhân văn sâu sắc chứa đựng trong mỗi câu chuyện sẽ luôn trường tồn cùng với thời gian. Qua tác phẩm Truyện cổ nước mình chúng ta cảm nhận được tình yêu của nhà văn đối với những câu chuyện cổ tích mà ông cha ta đã xây dựng đồng thời khiến cho người đọc thêm yêu những câu chuyện ấy. Bài tham khảo Mẫu 8 “Lá đỏ” là một tác phẩm thơ mà em đặc biệt ấn tượng. Nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã lựa chọn thể thơ tự do với cách ngắt nhịp phóng khoáng, giúp góp phần tạo nên không khí hào hùng của cuộc gặp gỡ vội vã giữa rừng Trường Sơn hùng vĩ. Ở đó đoàn quân đi qua khu rừng có cơn mưa lá đỏ, và tình cờ gặp mặt cô em gái tiền phương. Trong không gian thi vị ấy, hình ảnh người em gái đó được tác giả ví như hình dáng quê hương. Chi tiết vai áo bạc vì đeo súng lâu ngày đã góp phần khắc họa vẻ đẹp mộc mạc nhưng mạnh mẽ của cô. Và hơn hết, cô chính là hiện thân của hậu phương, của những người ở lại phía sau. Họ cũng đang mỗi ngày gắng sức vì độc lập của tổ quốc. Hình ảnh đó đã tiếp thêm sức mạnh cho đoàn quân, để họ lao nhanh về phía Sài Gòn. Trước khi đi, họ để lại cho cô gái tiền phương lời hẹn gặp giữa Sài Gòn. Khi ấy, đất nước đã độc lập, hậu phương và tiền tuyến sẽ lại hòa làm một, trở lại là những gia đình hạnh phúc. Đó vừa là lời hẹn vừa là lời thề của những người lính. Qua đó, bài thơ Lá đỏ đã giúp em cảm nhận được nhiệt huyết của những người lính trong thời bom đạn và càng thêm kính trọng, biết ơn những hi sinh của họ cho tổ quốc hôm nay. Bài tham khảo Mẫu 9 Trong những năm tháng khói lửa chiến tranh bập bùng, Đồng Chí là một áng thơ mang sức mạnh cổ vũ tinh thần to lớn. Bài thơ được Chính Hữu viết bằng thể thơ tự do, góp phần mang đến hơi thở hào sảng, bễ nghễ của những người lính trẻ. Những con người đó đến từ những miền quê khác nhau, đi qua cuộc đời khác nhau nhưng đều có điểm chung là lòng yêu nước và sự căm thù giặc, quyết tâm chiến đấu vì tổ quốc. Bởi cùng chung lý tưởng ấy nên họ gọi nhau là “đồng chí”. Những người đồng chí vốn xa lạ nay trở nên thân thiết, cận kề bên nhau. Họ chia ngọt sẻ bùi, cùng nhau vượt qua khó khăn, gian nan, thử thách. Họ đương đầu với mọi hiểm nguy, quyết không lùi bước vì độc lập dân tộc. Sự dũng cảm, kiên cường ấy của những người lính khiến em vô cùng kính phục. Đồng thời em càng trân trọng và biết ơn hơn những hi sinh của họ vì đất nước ngày hôm nay. Bài tham khảo Mẫu 10 Bài thơ Đợi mẹ của nhà thơ Vũ Quần Phương là một tác phẩm thơ rất hay và ý nghĩa về tình mẫu tử. Bài thơ được viết bằng thể thơ tự do, với những câu văn dài ngắn khác nhau, thậm chí là hai câu văn trong cùng một dòng thơ. Điều đó góp phần khắc họa những cảm xúc nhớ mong, chờ đợi dài đằng đẵng của nhân vật em bé. Em bé ấy ngồi chờ mẹ từ khi trăng mới hé nửa trên đầu hè, cho đến khi trời đã tối hẳn. Hình ảnh “em bé nhìn” lặp lại ba lần, cho thấy em bé ấy thực sự rất mong nhớ mẹ. Bởi thiếu mẹ, ngôi nhà bỗng trở nên lạnh lẽo, cô đơn và trống trải. Ngôi nhà lúc này chỉ là một kiến trúc vô hồn mà thôi. Phải có mẹ về, bếp lửa mới bập bùng, nơi đây mới thực là mái ấm của em. Chi tiết “nỗi đợi vẫn nằm mơ” ở cuối bài thơ cho thấy em bé đã chờ mẹ đến khi ngủ gật. Thậm chí ngay cả trong giấc mơ, trong tiềm thức em ấy vẫn đang chờ mẹ. Chính những chi tiết ấy đã khắc họa được tình cảm tha thiết của em bé dành cho mẹ của mình. Em nhớ mong mẹ bao nhiêu thì tình yêu của em dành cho mẹ to lớn bấy nhiêu. Từ hình ảnh em bé trong bài thơ Đợi mẹ, em cũng như thấy được chính mình trong những buổi chờ mẹ đi chợ, đi làm về. Có lẽ bất kì đứa trẻ nào trên thế giới này cũng dành trọn trái tim cho mẹ của mình như thế. Và nhà thơ Vũ Quần Phương đã xuất sắc truyền tải tình cảm chân thành, thiêng liêng ấy vào các vần thơ của Đợi mẹ.
|

Danh sách bình luận