Đề thi học kì 2 Văn 12 Chân trời sáng tạo - Đề số 10Tải về Đọc văn bản : Nhân tính là những đặc trưng văn hóa để phân biệt con người với “con khác”, phân biệt giống người với những giống loài khác; khiến con người trở nên khác với muông thú, cỏ cây và máy móc. Tổng hợp đề thi học kì 2 lớp 12 tất cả các môn - Chân trời sáng tạo Toán - Văn - Anh - Hoá - Sinh - Sử - Địa
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn
Đề thi I. ĐỌC HIỂU Đọc văn bản: Nhân tính là những đặc trưng văn hóa để phân biệt con người với “con khác”, phân biệt giống người với những giống loài khác; khiến con người trở nên khác với muông thú, cỏ cây và máy móc. Đó phải là nhân quyền, nhân bản, nhân văn; là những giá trị có tính phổ quát và trường tồn, được nhân loại tiến bộ cùng chia sẻ như là “tự do, bình đẳng, bác ái” hay “chân, thiện, mỹ”, chứ không bị giới hạn hay chi phối bởi những góc nhìn của quốc gia, chủng tộc, tôn giáo hay thời đại. Để hình thành nhân tính thì phải có cái “đầu sáng”, trái “tim nóng” và cái “bụng rộng”. “Đầu sáng” là cái đầu có khả năng minh định được ai là ai, cái gì là cái gì, và mình là ai; minh định được đúng-sai, phải-trái, chân-giả, thiện-ác, chính-tà... “Tim nóng” là trái tim có hồn, biết rung cảm trước cái đẹp, nhất là cái đẹp vô hình, cái đẹp không nhìn thấy, không sờ thấy, mà chỉ có thể cảm thấy mà thôi; biết thổn thức trước nỗi đau của đồng loại; biết phẫn nộ trước cái ác; đầy tình yêu thương và giàu lòng trắc ẩn… “Bụng rộng” là sự bao dung, vị tha; chỉ có “bụng rộng” thì ta mới bớt hẹp hòi, bon chen, đố kỵ; chỉ có bụng rộng thì ta mới có thể chứa được cả sự hẹp hòi của người khác… Nói cách khác, con người là một sinh vật có nhân tính, và nếu không có nhân tính thì không phải là con người, mà chỉ là con vật mang hình hài của con người. (Theo Giản Tư Trung, Sư phạm khai phóng, Nxb Tri thức, Tp.HCM, 2023) Thực hiện các yêu cầu sau: Câu 1. Vấn đề được đề cập đến trong văn bản trên là gì. Câu 2. Theo tác giả để hình thành nhân tính cần có những yếu tố nào. Câu 3. Trình bày hiệu quả của biện pháp tu từ liệt kê trong câu: “Đầu sáng” là cái đầu có khả năng minh định được ai là ai, cái gì là cái gì, và mình là ai; minh định được đúng-sai, phải-trái, chân-giả, thiện-ác, chính-tà… Câu 4. Anh/chị hiểu như thế nào về câu: Chỉ có bụng rộng thì ta mới có thể chứa được cả sự hẹp hòi của người khác. Câu 5. Thông điệp nào từ văn bản trên có ý nghĩa nhất đối với anh/chị (Trình bày tối đa khoảng 5-7 dòng) II. VIẾT Câu 1: Viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) nêu suy nghĩ của anh/chị về điều cần làm để có một “trái tim nóng”. Câu 2: Đọc hai văn bản sau và thực hiện yêu cầu: Văn bản 1: BÍ ẨN CỦA LÀN NƯỚC Tóm tắt bối cảnh: Câu chuyện kể về trận lũ kinh hoàng trong đêm Rằm tháng Bảy. Một loạt bom Mỹ phá bung đê, anh vội chạy về nhà để cứu vợ và đứa con trai vừa mới sinh. Trong lúc hoảng loạn, đứa con sơ sinh của họ bị tuột khỏi tay mẹ và rơi xuống dòng nước… - Phận chị ấy đã vậy, thôi thì anh phải nén lòng lại, giữ sức khoẻ mà nuôi con. Ơn trời, anh còn kịp cứu được cháu. Chao ôi, vừa kịp khóc chào đời đã trải qua một cơn kinh hoàng hú vía. Anh coi con anh này. Cứ như không. Đã bú, đã ngủ rồi đây này. Ngoan chưa này… Ôi chao, nó tè dầm rồi này. Chị nựng nịu, và từ từ giở bọc chăn chiên đang ủ kín con tôi. Chị thay tã cho nó. Tôi nhìn, chết lặng. - Con tôi… - Tôi khóc, đỡ lấy bọc chăn, - Con tôi. Từ bấy tới nay, thời gian trôi qua và triền nước trôi đi, tôi đã có tuổi và con gái tôi đã thành một thiếu nữ. Nó là đứa con của làn nước, mọi người đều nói thế bởi vì chuyện nó sa xuống dòng nước lụt rồi được cha nó cứu lên thì cả làng ai cũng biết. Nhưng điều bí mật kia thì không ai hay, kể cả con gái tôi cũng không thể biết. Chỉ có dòng sông biết. Có ngày nào mà tôi không ra sông để ngắm dòng nước trôi. Vợ tôi, con tôi và người đàn bà vô danh nhìn tôi từ đáy nước. Thời gian, năm tháng cứ trôi, dòng sông và lịch sử, tất cả đổi thay nhưng mà niềm đau của đời tôi thì khôn nguôi bởi ấy là niềm đau không thể nói nên lời. (Trích Bí ẩn làn nước, Bảo Ninh, Những truyện ngắn, NXB Trẻ, 2021, tr.21-24.) Văn bản 2: LỜI HỨA CỦA THỜI GIAN Tóm tắt bối cảnh: Truyện kể về ông Miêng, một người lính sống sót duy nhất sau một trận chiến ác liệt năm 1972. Hoà bình lập lại, ông về sống tại khu đồi xưa là chiến trường, trồng cây, canh giấc cho những người đã ngã xuống. Bất hạnh liên tiếp bủa vây ông khi con bị dị dạng và chết, vợ bỏ đi. Bỗng một ngày có chàng trai đến tìm ông nhận là con… - Ba ơi, má mất rồi... - “Ba ơi”! Ông lẩm bẩm như người ngồi mê, nhắc lại tiếng gọi của chàng trai. - Ba hãy thứ lỗi cho má - Giọng chàng trai đã khàn - Ba cho con về ở với ba. Ba đừng bỏ con. Ông Miêng nhìn chàng trai. Nếu lúc này ông nói ra sự thật với chàng trai thì có nghĩa là ông đập tan mọi hy vọng và sự chờ đợi của nó. Và nghĩa là, ông không chấp nhận lời cầu xin của người đàn bà tội nghiệp trong cơn hấp hối. Và cũng chính lúc này, sự xuất hiện của chàng trai lại làm ông thấy cô đơn hơn bao giờ hết. Nếu bây giờ chàng trai bỏ đi, ông sẽ gục ngã không thể nào đứng lên được bởi chính sự cô đơn mà bấy lâu nay ông cố vùng vẫy chống chọi. Khi chỉ có một mình ông, ông không nhìn thấy hết sự cô đơn. Nhưng khi có một con người khác đứng trước mặt ông, ông mới nhìn thấy toàn bộ sự cô đơn không lối ra của mình…Ông bước đến trước chàng trai. Chàng trai đỡ lấy ông. Ông thấy hơi người ấm rực từ chàng trai phả vào cơ thể ông đang run lên như một cơn sốt rét. Ông quờ tay ôm lấy chàng trai và kêu lên như một tiếng rên. (Trích từ Tuyển tập truyện ngắn 75 gương mặt Văn nghệ, Nguyễn Quang Thiều, NXB Hội nhà văn, 2023, trang 556) Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá nhân vật người cha và nhân vật ông Miêng trong hai văn bản trên.
----------------------Hết---------------------- Đáp án I. PHẦN ĐỌC HIỂU Câu 1: Phương pháp: - Đọc kĩ văn bản để xác định chủ đề (vấn đề trung tâm) của tác phẩm Cách giải: Văn bản đề cập đến vấn đề nhân tính của con người Câu 2: Phương pháp: - Đọc kỹ đoạn văn thứ hai. - Xác định câu văn mang tính khái quát, liệt kê. Cách giải: Để hình thành nhân tính thì phải có cái “đầu sáng”, trái “tim nóng” và cái “bụng rộng”. Câu 3: Phương pháp: - Nhận diện biện pháp liệt kê - Phân tích tác dụng Cách giải: Hiệu quả của biện pháp tu từ liệt kê trong câu: “Đầu sáng” là cái đầu có khả năng minh định được ai là ai, cái gì là cái gì, và mình là ai; minh định được đúng-sai, phải-trái, chân-giả, thiện-ác, chính-tà…. + Nhấn mạnh việc nhận biết và phân biệt rõ ràng các giá trị trong cuộc sống của một con người có tư duy sáng suốt. + Giúp cho câu văn sinh động, giàu hình ảnh, tăng hiệu quả diễn đạt.
Câu 4: Phương pháp: - Giải thích nghĩa đen, nghĩa bóng của các hình ảnh: "bụng rộng", "chứa được", "sự hẹp hòi". - Rút ra bài học về lẽ sống. Cách giải: -“Bụng rộng” là sự bao dung, vị tha; biết sống vì người khác; “Sự hẹp hòi” là sự ích kỷ, hẹp hòi, đố kỵ của người đời. - Câu nói muốn nhấn mạnh: người có tấm lòng rộng lượng và bao dung mới có thể bỏ qua những lỗi lầm, sự ích kỷ và hẹp hòi của người khác. => Khuyên chúng ta hãy sống vị tha, bao dung bởi đó là nhân tính con người. Câu 5: Phương pháp: - Thông điệp: Cần phải xây dựng nhân tính cho bản thân /biết sống bao dung, vị tha, yêu thương, giàu lòng trắc ẩn… - Vì: + Nhân tính là yếu tố cần có để chúng ta trở thành một con người đúng nghĩa. + Khi xây dựng được nhân tính, chúng ta sẽ có được một cuộc sống nhân văn, hạnh phúc hơn… Cách giải: Đoạn văn tham khảo: Thông điệp có ý nghĩa nhất với tôi từ văn bản là: mỗi người cần không ngừng xây dựng nhân tính cho bản thân bằng cách sống bao dung, vị tha, yêu thương và giàu lòng trắc ẩn. Bởi lẽ, nhân tính chính là yếu tố cốt lõi để chúng ta trở thành một con người đúng nghĩa, không chỉ mang hình hài con người mà còn có trái tim biết rung động trước cái đẹp, cái thiện. Khi xây dựng được nhân tính, tâm hồn ta sẽ an nhiên, các mối quan hệ trở nên tốt đẹp, từ đó có được một cuộc sống nhân văn và hạnh phúc hơn. II. PHẦN VIẾT Câu 1: Phương pháp: 1. Giải thích: Một trái tim nóng là biểu tượng của sự nhiệt huyết, sẵn sàng đồng cảm và chia sẻ với những người xung quanh. 2. Điều cần làm để có một “trái tim nóng”: + Sống yêu thương, quan tâm mọi người xung quanh. + Luôn lắng nghe, thấu hiểu, đồng cảm. + Thái độ sống tích cực, lạc quan. + Khích lệ, cổ vũ, ca ngợi những quan điểm, những hành động đẹp… 3. Phê phán thói ích kỉ, thờ ơ trước khó khăn, mất mát của người khác. 4. Rút ra bài học cho bản thân. Cách giải: Đoạn văn tham khảo: “Trái tim nóng” là biểu tượng của sự nhiệt huyết, sẵn sàng đồng cảm và chia sẻ sâu sắc với những người xung quanh. Để có được trái tim ấy, trước hết mỗi người cần sống yêu thương, quan tâm đến mọi người bằng những hành động cụ thể, dù là nhỏ bé. Cùng với đó, chúng ta hãy luôn lắng nghe và thấu hiểu, bởi đồng cảm chính là nền tảng của mọi sự sẻ chia chân thành. Một thái độ sống tích cực, lạc quan cũng góp phần nuôi dưỡng “trái tim nóng”, giúp ta lan tỏa năng lượng tốt đẹp đến cộng đồng. Bên cạnh đó, việc khích lệ, cổ vũ và ca ngợi những quan điểm, hành động đẹp vừa tôn vinh cái thiện, vừa tiếp thêm động lực cho người khác. Trái lại, chúng ta cần lên án lối sống ích kỷ, thờ ơ, dửng dưng trước khó khăn, mất mát của đồng loại, bởi đó chính là biểu hiện đáng phê phán của “trái tim lạnh”. Từ những điều trên, mỗi học sinh lớp 12 chúng tôi nhận thức rằng mình có thể rèn luyện trái tim nóng mỗi ngày bằng cách biết lắng nghe bạn bè, san sẻ với cha mẹ và sẵn lòng giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn. Hãy để trái tim luôn ấm nóng, bởi đó là cách ta thực sự sống là Người, không chỉ mang hình hài mà còn chan chứa yêu thương và nhân tính. Câu 2: Phương pháp: 1.Mở bài. Giới thiệu hai tác giả, 2 tác phẩm và vấn đề nghị luận 2. Thân bài: Triển khai vấn đề nghị luận: 2.1 Thông tin chung về từng tác phẩm: đề tài, vị trí của tác phẩm trong đời sống văn học,... 2.2 Điểm tương đồng: + Về nội dung: Cả hai đều là những người cha chịu nhiều mất mát, đau thương trong chiến tranh; Đều phải đối mặt với những quyết định khó khăn liên quan đến con cái; Đều mang trong mình tình yêu thương sâu sắc dành cho con. (phân tích kết hợp chứng minh) + Về nghệ thuật: Điểm nhìn của người kể chuyện linh hoạt, nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật tinh tế. 2.3 Điểm khác biệt: + Đoạn trích "Bí ẩn của làn nước": Người cha mất con trong một hoàn cảnh bất ngờ. Ông đau khổ, day dứt, quyết định giữ bí mật là một lựa chọn đầy trăn trở, xuất phát từ tình yêu thương con. Là người giàu tình cảm, sống nội tâm, chịu đựng nỗi đau một mình. Truyện được kể theo ngôi số 1, điểm nhìn hạn tri, cốt truyện bất ngờ, giọng điệu ngậm ngùi, xót xa… + Đoạn trích “Lời hứa của thời gian”: Ông Miêng trong chấp nhận một sự thật đau lòng, mở lòng đón nhận một người con không phải ruột thịt. Là người mạnh mẽ, lạc quan, biết hy sinh vì hạnh phúc của người khác. Với ngôi kể số 3, điểm nhìn trần thuật có sự thay đổi khi từ bên ngoài, khi đi sâu vào nội tâm, bộc lộ những đấu tranh day dứt của nhân vật. 2.4 Lí giải nguyên nhân của sự tương đồng và sự khác biệt: + Hoàn cảnh lịch sử. + Tâm thế, phong cách sáng tác của hai tác giả. + Bản chất của văn chương là sáng tạo. Trình bày những nhận xét, đánh giá về ý nghĩa, đóng góp của mỗi tác phẩm. 3. Kết bài: Đánh giá lại vấn đề nghị luận Cách giải: Bài văn tham khảo: Chiến tranh không chỉ để lại những vết thương trên cánh đồng, trên thành phố mà còn khắc sâu vào số phận con người những nỗi đau khó nguôi. Văn học Việt Nam sau chiến tranh đã ghi nhận nhiều hình tượng người cha mang trong mình nỗi đau dai dẳng và tình yêu thương vô bờ. Hai truyện ngắn "Bí ẩn của làn nước" của Bảo Ninh và "Lời hứa của thời gian" của Nguyễn Quang Thiều đã xây dựng thành công những nhân vật người cha với nhiều điểm tương đồng nhưng cũng có những nét khác biệt sâu sắc, góp phần tạo nên giá trị nhân văn đặc biệt. Cả hai tác phẩm đều thuộc dòng văn học về đề tài chiến tranh và thân phận con người sau chiến tranh. "Bí ẩn của làn nước" của Bảo Ninh là một truyện ngắn giàu ám ảnh, nằm trong mạch cảm hứng về những mất mát không thể bù đắp. "Lời hứa của thời gian" của Nguyễn Quang Thiều cũng thuộc số những truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách giàu chất thơ và triết lý của ông. Trước hết, hai nhân vật người cha trong hai tác phẩm có nhiều điểm gặp gỡ. Về nội dung, cả hai đều là những người lính từng trải qua chiến tranh khốc liệt, chịu nhiều mất mát, đau thương. Người cha trong "Bí ẩn của làn nước" bị cuốn trôi đứa con trai sơ sinh trong trận lũ đêm bom Mỹ phá đê. Ông Miêng trong "Lời hứa của thời gian" mất đứa con bị dị dạng, vợ bỏ đi. Cả hai đều phải đối mặt với những quyết định khó khăn liên quan đến con cái. Người cha trong Bảo Ninh phải lựa chọn giữa việc nói ra sự thật đau lòng hay giữ bí mật suốt đời để con gái được sống thanh thản. Ông Miêng phải đối diện với sự thật chàng trai đến nhận mình không phải con ruột, lựa chọn giữa khước từ hay dang tay đón nhận. Dù mỗi người có một hoàn cảnh riêng, cả hai đều mang trong mình tình yêu thương con sâu sắc, sẵn sàng hy sinh hạnh phúc cá nhân vì con. Về nghệ thuật, cả hai tác phẩm đều sử dụng điểm nhìn linh hoạt và nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật tinh tế, đặc biệt là những giây phút giằng xé nội tâm. Bên cạnh những điểm tương đồng, hai nhân vật còn có những nét khác biệt rõ nét. Trong "Bí ẩn của làn nước", người cha mất con trong hoàn cảnh bất ngờ, đầy bi kịch. Ông đau khổ, day dứt và quyết định giữ bí mật đến cuối đời – một lựa chọn đầy trăn trở nhưng xuất phát từ tình yêu thương con gái. Ông là người giàu tình cảm, sống nội tâm, chịu đựng nỗi đau một mình. Truyện được kể theo ngôi thứ nhất, điểm nhìn hạn tri, tạo nên cốt truyện bất ngờ với giọng điệu ngậm ngùi, xót xa. Ngược lại, ông Miêng trong "Lời hứa của thời gian" dù cũng chấp nhận sự thật đau lòng nhưng đã chủ động mở lòng đón nhận người con không phải ruột thịt. Ông là người mạnh mẽ, giàu lòng vị tha, biết hy sinh vì hạnh phúc của người khác. Truyện sử dụng ngôi kể thứ ba, điểm nhìn trần thuật thay đổi linh hoạt, khi từ bên ngoài, khi đi sâu vào nội tâm, bộc lộ những đấu tranh day dứt nhưng cuối cùng là sự lựa chọn tích cực. Sự tương đồng và khác biệt giữa hai nhân vật bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân. Trước hết, cả hai đều chịu ảnh hưởng từ hoàn cảnh lịch sử đất nước sau chiến tranh với những mất mát, đổ vỡ. Tuy nhiên, tâm thế và phong cách sáng tác của hai nhà văn có sự khác biệt. Bảo Ninh thường khai thác nỗi đau chiến tranh âm ỉ, dai dẳng, không có lời giải như trong "Nỗi buồn chiến tranh", vì thế nhân vật của ông thường chìm đắm trong day dứt. Trong khi đó, Nguyễn Quang Thiều, dù cũng viết về chiến tranh, lại thiên về sự cứu rỗi, về lời hứa và hy vọng, nên nhân vật ông Miêng đã chọn cách dang tay đón nhận tình thương để chữa lành chính mình. Bản chất của văn chương là sáng tạo, mỗi nhà văn có cách tiếp cận riêng, tạo nên những giá trị đa dạng. Cả hai tác phẩm đều có những đóng góp quan trọng. "Bí ẩn của làn nước" đem đến cho người đọc sự ám ảnh về bi kịch chiến tranh còn dai dẳng trong đời thường. "Lời hứa của thời gian" lại khẳng định sức mạnh của lòng vị tha và khả năng hàn gắn vết thương bằng tình yêu thương. Tóm lại, nhân vật người cha trong "Bí ẩn của làn nước" và ông Miêng trong "Lời hứa của thời gian" tuy có những cách thể hiện khác nhau nhưng đều là những hình tượng đẹp về tình phụ tử và lòng hy sinh. Qua đó, mỗi người đọc có thêm sự trân trọng đối với những giá trị nhân văn cao cả, những vẻ đẹp thầm lặng mà con người Việt Nam đã gìn giữ giữa đổ nát, mất mát của chiến tranh.
|


Danh sách bình luận